Sử dụng ánh sáng để khai thác hải sản đã được ứng dụng phổ biến trên thế giới và Việt Nam. Tiền sử người ta dùng đền măng sông, rồi đèn nê-ông, đèn cao áp, tiên tiến nhất cho đến nay là đèn LED. Một số ứng dụng đèn LED khai thác hải sản đã được ứng dụng thành công bước đầu trong vài năm gần đây. Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề cần được cải tiến, hoàn thiện để phù hợp với điều kiện cụ thể trên tàu cá Việt Nam, đặc biệt là giá thành toàn cum đèn LED.

       

Th.s Võ Thiên Lăng

Chủ tịch Hội Nghề cá tỉnh Khánh Hòa


 

KHAI THÁC HẢI SẢN KẾT HỢP ÁNH SÁNG

         1. Ánh sáng và vai trò của nó đối với đời sống của thủy sinh vật 

         Ánh sáng gồm nhiều tia sáng, mỗi tia sáng được đặc trưng bới tính chất sóng của nó. Bản chất phức tạp của ánh sáng có thể coi ánh sáng là những dao động điện từ gây ra cảm ứng thị giác. Quá trình dao động được đặc trưng bởi bước sóng λ và biên độ a. Bước sóng thể hiện tính chất dao dộng khách quan của ánh sáng mà cơ quan thị giác có thể cảm ứng đựợc độ chói của ánh sáng. Tần số dao động, tốc độ và bước sóng của ánh sáng quan hệ với nhau qua biểu  thức: F =c/λ        

          Đơn vị đo bước sóng là Angstrôm (Ă); 1 Ă=10-8cm

          Vùng quy ước sự truyền sóng ánh sáng theo quang phổ nhìn thấy được như bảng 1: 

     Bảng 1. Vùng quy ước sự truyền sóng ánh sáng

Tia sáng màu

Bước sóng (Ă)

Đỏ

7200-6200

Da cam

6200-5950

Vàng

5950-5650

Xanh lá cây

5650-4900

Xanh nước biển

4900-4400

Tím

4400-3900

        Phổ nhìn thấy của cá gần như giống với của người, giới hạn λ = 4000-7000Ă. Sự hiểu biết về quang phổ của ánh sáng mà mắt các loài cá khác nhau thụ cảm được cho ta cơ sở khoa học để chọn nguồn sáng thích hợp nhất. 

        Ánh sáng có vai trò to lớn đối với đời sống của thủy sinh vật, nó góp phần quyết định sự sinh trưởng và tạo nên tập tính của hầu hết các loài sinh vật, đặc biệt đối với thủy sinh vật. Ánh sáng có thể làm thay đổi tập tính sinh sản của đàn cá bố mẹ, tốc độ sinh trưởng của trứng và ấu trùng, thay đổi tập tính và khả năng bắt mồi của đàn cá trưởng thành, ảnh hưởng đến tập tính kết đàn của hầu hết các loài thủy sinh vật…Ánh sáng tự nhiên (ánh sáng ban ngày) tạo nên tập tính di cư thẳng đứng, ánh sáng nhân tạo (ánh sáng từ các đống lửa, đèn hơi, đèn dầu, đèn điện…) tạo nên tập tính kiếm mồi, kết đàn, trốn chạy…của hầu hết các loài thủy sinh vật. 

           Các nghiên cứu về tập tính của cá trong vùng sáng nhân tạo nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng ánh sáng trong khai thác hải sản. Các nghiên cứu về lĩnh vực này đều có kết luận chung rằng tập tính của cá, năng suất khai thác của ngư cụ phụ thuộc vào trạng thái sinh học của đối tượng như độ no dạ dày, độ chín muồi tuyến sinh dục…và các yếu tố môi trường bên ngoài như thức ăn, nhiệt độ, sóng, gió…Các nghiên cứu về tập tính tự nhiên (đêm, ngày) của một số loài cá của Harder-Hempel (1954), Karker (1958, 1964), Radakov-Solovyev (1959), Cloudsley Thomson (1961), Kruuk (1963), Groot (1964) đều có kết luận rằng các loài cá hoạt động kiếm mồi vào ban đêm, ban ngày chúng chậm chạp và ít di chuyển. Zucser (1958) cho rằng ánh sáng nhân tạo có tác dụng như một tín hiệu mồi, cá đói dễ bị hấp dẫn hơn cá no. Dragezund (1957, 1958) thấy rằng một số loài cá có thể bị choáng, nhảy vọt lên và lao đến nguồn sáng chiếu đột ngột, nhưng sau đó nó tản đi hoặc tập trung ở vùng sáng có cường độ ánh sáng thích hợp. Năm 1952, Hsiao thấy cá ngừ tập trung trong vùng nước ánh sáng trắng, có độ rọi từ 700 4.500 lux, Uthed (1955) đã phát hiện hoạt tính của cá trích phụ thuộc vào cường độ chiếu sáng, chúng có hoạt tính mạnh ở độ rọi sáng từ 20 4.000 lux. Hoạt tính của chúng giảm dần khi tăng độ rọi sáng đến 65.000 lux và độ rọi sáng thích hợp nhất của chúng khoảng 100 lux. Uda (1959) thấy rằng cá non ở hầu hết các loài thí nghiệm có phản ứng mạnh và nhạy cảm hơn các cá lớn tuổi hơn. Trong mùa sinh sản hoặc đẻ trứng các đàn cá thường có tính hướng quang giảm hoặc không có phản ứng với ánh sáng nhân tạo. 

          Các nghiên cứu của I.V Niconorop (1965) cho rằng cá có phản ứng thăm dò với ánh sáng nhân tạo sau đó phát sinh cá các phản ứng định hướng có điều kiện như kiếm ăn, kết đàn…và nhận thấy các cá thể không tập trung thành đàn kiếm mồi, các cá thể trong đàn chuyển động trong vùng sáng không ăn mồi, dạ dày trống rỗng. Các nghiên cứu khác của Danilevski, Semenchenko…sử dụng ánh sáng nhân tạo để điều khiển đối tượng đánh bắt vào vùng tác dụng của ngư cụ. 

        Các nghiên cứu về nghề cá kết hợp ánh sáng còn khá ít, có thể chia các nghiên cứu đã thực hiện theo hai hướng chủ yếu là nghiên cứu sử dụng ánh sáng để tăng năng suất khai thác và nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng đến cấu tạo mắt cá.

        Các nghiên cứu thực hiện theo hướng thứ nhất được thực hiện với sự giúp đỡ của các nhà khoa học Liên Xô (1977 1978) đã xác định được độ rọi sáng thích nghi của một số loài cá, phương pháp sử dụng nguồn sáng tập trung cá. Các nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hải sản từ 1963 1984 tập trung vào các nghiên cứu áp dụng ánh sáng đèn măng xông và ánh sáng đèn điện trên các tàu lưới vó và lưới vây. Nghiên cứu sử dụng bơm hút cá cơm của Trường Đại học Thủy sản (1984) mặc dù hiệu quả đánh bắt không cao nhưng đã rút ra được một số nhận xét và kết luận quan trọng. Hướng nghiên cứu thứ hai, nghiên cứu ảnh hưởng của cường độ ánh sáng mạnh, cưỡng bức đối với tôm, cá được Nguyễn Văn Lục (1992) và Vũ Duyên Hải (2001) thực hiện. Các nghiên cứu này đã xác định được một số ngưỡng độ rọi sáng làm thay đổi lâu dài cấu trúc võng mạc mắt cá và đưa ra các kết luận ban đầu về mức trang bị ánh sáng cho phép đối với các tàu khai thác hải sản kết hợp ánh sáng. 

          2. Quá trình hình thành và phát triển nghề cá kết hợp ánh sáng 

         Việc đánh bắt cá có sử dụng ánh sáng đã được thực hiện từ xa xưa. Lúc đầu, người ta sử dụng ánh sáng để tìm cá, sau đó sử dụng ánh sáng để lôi cuốn, tập trung cá đến quanh nguồn sáng. Người xưa đã dùng các đống lửa để lôi cuốn cá, sau đó sử dụng các nguồn sáng phát ra từ các đèn cháy hơi kali, axêtilen và các loại đèn khác. Năm 1824, giả thuyết đầu tiên về khả năng sử dụng ánh sáng trên mặt nước để lôi cuốn cá đã được hình thành. Năm 1882, ở biển Địa Trung Hải đã sử dụng ánh sáng để đánh bắt cá và hiệu quả khai thác đạt rất cao, sản lượng cá đánh được không thể tiêu thụ hết. Năm 1885 ở Nauy và năm 1888 ở Nga đã thực hiện thí nghiệm dùng đèn dưới nước để thu hút cá trích nhưng kết quả thí nghiệm không cao. Vào thời gian này, Nhật Bản cũng đã đưa ánh sáng điện vào nghề cá một cách rộng rãi. Cho đến năm 1930, Nauy tiếp tục thực hiện dùng ánh sáng điện để thu hút cá, kết quả thí nghiệm đạt được khá cao.

Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, các nghiên cứu và áp dụng ánh sáng điện để tăng năng suất đánh bắt cá được thực hiện rộng rãi và các kết quả nghiên cứu và áp dụng ánh sáng điện để tăng năng suất đánh bắt cá được thực hiện rộng rãi và kết quả thu được rất to lớn, nổi bật là các nghiên cứu của Liên Xô trước đây về sử dụng ánh sáng để đánh cá trích. Trong thời gian này, loại đèn hơi, mạng măng xông và các đèn điện sợi đốt được sử dụng rộng rãi trong nghề cá kết hợp ánh sáng toàn cầu. Năm 1955, các thí nghiệm dùng đèn huỳnh quang để lôi cuốn cá được thực hiện, kết quả thí nghiệm khá tốt nhưng chưa đưa vào sử dụng phổ biến do tính phức tạp của nó. Đến năm 1962, đèn huỳnh quang được đưa vào sử dụng phổ biến do tính hiệu quả của nó cao hơn nhiều so với các loại đèn khác. 

         Cho đến nay, nghề cá kết hợp ánh sáng đã phát triển rất mạnh, sản lượng khai thác hàng năm ước tính chiếm 36% tổng sản lượng khai thác toàn cầu. Các quốc gia có nghề khai thác cákết hợp ánh sáng phát triển mạnh như Nhật Bản, Nga, Nauy, Pêru, Philippin…Ánh sáng (đèn) sử dụng trong nghề đánh cá được chia thành ba loại chính dựa theo tính chất làm việc và hiệu quả của nó: 

          Đèn tìm cá: được pha, quét nhanh và đột ngột trên mặt nước tạo cho đàn cá có phản ứng bị choáng (thức tỉnh), nhảy lên trên mặt nước và bị phát hiện, sau đó người ta dùng các kỹ thuật tiếp theo để đánh bắt chúng. Đèn này thường có cường độ mạnh, ánh sáng tập trung, sử dụng chủ yếu trên các tàu làm nghề pha xúc và nghề lưới vây. 

          Đèn thu hút (tập trung) cá: sử dụng đèn này đã tạo ra vùng sáng ổn định, thu hút các đàn cá từ nơi khác đến. Đèn tập trung cá thường được bố trí cố định ở hai bên mạn và đuôi tàu. Đèn có cường độ sáng không lớn nhưng có phạm vi chiếu sáng rộng và được sử dụng rộng rãi trên các tàu khai thác hải sản kết hợp ánh sáng. 

          Đèn hướng (gom) cá: loại đèn này thường sử dụng tiếp sau hai loại đèn trên, vào lúc chuẩn bị thả lưới. Công suất của đèn này thường nhỏ, phạm vi chiếu sáng hẹp, thường là ánh sáng màu vàng hoặc đỏ, bố trí trên tàu (nghề chụp mực và pha xúc) hoặc ngay trên mặt nước (nghề lưới vây).  

         3. Tập tính của cá trong vùng chiêú sáng 

         Ánh sáng trong đời sống của cá có ý nghĩa như là tín hiệu thức ăn, sự tạo đàn, định hướng di chuyển…Hiện nay, đã phát hiện được đặc tính sinh học bị lôi cuốn đến vùng chiếu sáng của nhiều loài cá khác nhau. Tuy nhiên, nguyên nhân nào đưa cá đến nguồn sáng còn chưa được làm sáng tỏ do sự thay đổi đặc điểm sinh lý cá trong mỗi giai đoạn phát triển và tính chất phức tạp của môi trường được chiếu sáng. Nhiều công trình đã kết luận rằng, những loài cá nổi, thích nước ấm và ăn sinh vật phù du thường tập trung thành đàn khá ổn định trong vùng chiếu sáng. Các loài cá này có tập tính di cư thẳng đứng khá rõ rệt, ban ngày tập trung ở vùng nước gần đáy, ban đêm nổi lên và phân tán hoặc tập trung. Tập tính cá trong vùng chiếu sáng phụ thuộc vào nhiều yếu tố đặc trưng cho môi trường nước như nhiệt độ, độ trong, dòng chảy, sóng…Tập tính cá cũng thay đổi theo trạng thái sinh vật học của nó như độ chín muồi sinh dục, độ no dạ dày…Ngoài ra, tập tính của cá còn phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh như ánh sáng của trăng, tiếng động…Tuy nhiên, người ta có thể tác động gây ảnh hưởng đến tập tính của cá bằng cách điều khiển kỹ thuật chiếu sáng, thay đổi chế độ làm việc của bóng đèn. Có thể tóm tắt một số tập tính cơ bản của cá trong vùng chiếu sáng như sau: 

            - Tập tính của cá thay đổi theo mật độ tập trung của nó trong vùng chiếu sáng. Khi mật độ tập trung ít, đàn cá thường chuyển động hỗn loạn, không theo quy luật. Khi mật độ đàn cá dày đặc, chúng thường chuyển động vòng tròn quanh nguồn sáng 

          - Thời gian cá đến nguồn sáng phụ thuộc vào từng loài, kích thước cá thể và điều kiện môi trường. Có loài đến tập trung; ổn định ngay sau khi nguồn sáng phát sáng có những đàn cá đến nguồn sáng, sau đó lại bỏ đi, lại quay lại…sau đó mới tập trung ổn định. Tuy nhiên, hầu hết các loài cá đến và tập trung ổn định trong vùng chiếu sáng sau thời gian từ 20 40 phút sau khi nguồn sáng phát sáng ổn định. 

           Khi thay đổi chế độ chiếu sáng đột ngột, các đàn cá thường có phản ứng tản ra xa nguồn sáng, nhiều loài cá có phản ứng thức tỉnh đột ngột, nhao lên khỏi mặt nước một cách dữ dội như cá thu đao, cá cơm…

        - Cùng lúc tồn tại vùng sáng có công suất như nhau, các cá thể có thể di chuyển từ vùng này sang vùng khác, nhưng số lượng tập trung ở mỗi vùng thay đổi không đáng kể. 

        - Bật cùng lúc hai đèn có công suất khác nhau, các cá thể có xu hướng di chuyển đến nguồn sáng có công suất lớn hơn. Khi tắt đèn công suất lớn hơn, chỉ một phần nhỏ các cá thể di chuyển đến vùng sáng yếu hơn, số còn lại tản ra xa nguồn sáng. 

          - Số lượng đàn cá tập trung quanh nguồn sáng chuyển động nhiều hơn nguồn sáng không chuyển động. Tính ổn định của đàn cá quanh nguồn sáng chuyển động phụ thuộc phương và tốc độ chuyển động của nguồn sáng. 

          - Mật độ tập trung và khoảng cách đàn cá đến nguồn sáng phụ thuộc từng loài, trạng thái sinh lý và tính chất quang phổ của nguồn sáng. 

         - Phản ứng của cá đối với ánh sáng phụ thuộc vào nhiều yếu tố tự nhiên, trạng thái sinh lý đàn cá, nguyên lý đánh bắt của ngư cụ và tính chất nguồn sáng. Vì vậy, cần phải có các phương pháp sử dụng nguồn sáng phù hợp. Đèn tập trung cá có thể là đèn trên mặt nước hoặc đèn dưới mặt nước. Nguồn sáng tập trung cá có thể được bố trí theo các cách sau: nguồn sáng độc lập hoặc một cụm sáng gồm nhiều nguồn sáng nằm gần nhau; tuyến sáng (hình 63) gồm nhiều nguồn sáng nằm theo hướng nhất định, các nguồn sáng nằm cách nhau một khoảng nào đó; nguồn sáng di động có quang thông thay đổi.

        4. Các ngư cụ và phương pháp đánh bắt  

        Có nhiều hình thức khai thác thủy sản kết hợp ánh sáng. Tuy nhiên, các ngư cụ được sử dụng chủ yếu làm nhóm ngư cụ lọc nước lấy cá và một số nhóm ngư cụ loại khác nhau như câu, bẫy… 

        Lưới vây: lưới vây kết hợp ánh sáng được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Đối tượng khai thác chủ yếu là các loại cá nổi nhỏ, sống gần bờ như cá nục, trích, bạc má…Tàu lưới vây ở Việt Nam sử dụng nguồn sáng nhân tạo từ các loại đèn như đèn điện, đèn hơi đốt…trên hoặc dưới mặt nước để lôi cuốn các đàn cá đến tập trung quanh nguồn sáng. Sau khi đàn cá đã tập trung ổn định quanh nguồn sáng, tiến hành giảm quang thông, thu nhỏ vùng sáng và sử dụng đèn gom cá thường được đặt trên một thuyền nhỏ, gọi là xuồng đèn để điều khiển đàn cá đến vị trí thuận lợi cho việc vây bắt. Sau đó, tàu tiến hành thả lưới bao vây đàn cá quanh đèn gom cá. Hiệu quả đánh bắt lưới vây phụ thuộc vào kỹ thuật sử dụng đèn, phương pháp bố trí nguồn sáng và kích thước ngư cụ. Phương pháp bố trí nguồn sáng hiệu quả là tuyến sáng và cụm sáng. 

         Lưới mành: lưới mành được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam trên các tàu quy mô nhỏ, đối tượng khai thác chủ yếu là các loài cá nổi nhỏ và mực sống gần bờ. Các tàu lưới mành kết hợp ánh sáng sử dụng ánh sáng cố định trên tàu để lôi cuốn cá tập trung quanh tàu, tàu thả lưới cố định hoặc trôi theo dòng nước sau đó dùng đèn gom cá dẫn cá vào vùng tác dụng (miệng) của lưới. 

          Lưới vó: lưới vó đã được sử dụng ở Việt Nam từ lâu, trong những năm đầu thời kỳ phát triển và du nhập nghề cá ánh sáng vào Việt Nam. Lưới vó có dạng hình chữ nhật được thả xuống nước, gần đáy biển được định hình bằng các neo ở góc lưới hoặc cạnh lưới. Tàu phát sáng, tập trung cá, sau đó sử dụng đèn gom cá đưa cá vào khoảng giữa lưới. Sau đó, tiến hành thu các góc và cạnh lưới lên tàu. 

          Lưới chụp mực: lưới chụp mực được du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu của thập kỷ 90. Đối tượng khai thác chủ yếu là mực ống và một số loài cá nổi khác. Lưới có dạng hình chóp, thon dần từ miệng đến đụt lưới. Tàu sử dụng các bóng đèn cao áp lôi cuốn mực đến gần tàu, sau đó tắt dần hết các bóng, chỉ sử dụng đèn gom mực (đèn tà) để lôi cuốn mực lên mặt nước và tập trung ở vùng dưới thân tàu (trung tâm của chu vi miệng lưới) và tiến hành tháo các liên kết góc lưới, lưới tự động rơi xuống bao phủ không gian nước chứa đàn mực. Khi thu lưới, miệng lưới thắt lại nhờ hệ thống vòng khuyên và mực được dồn vào đụt lưới. 

           Pha xúc (vó mạn tàu): lưới này được dùng chủ yếu để đánh bắt các đàn cá cơm tập trung với mật độ cao ở tầng nước mặt. Tàu sử dụng các thiết bị dò tìm đàn cá hoặc ánh sáng tập trung đàn cá, sau đó sử dụng đèn pha công suất lớn mở rồi tắt đột ngột tạo phản ứng thức tỉnh đàn cá sau khi đèn tắt. Cá nhao lên mặt nước và dùng lưới đánh bắt chúng.

         Câu mực: có hai dạng câu mực chủ yếu, câu mực ống gần bờ và câu mực đại dương. Câu mực ống gần bờ sử dụng ánh sáng tương tự như các nghề lưới vây, lưới mành, lưới chụp mực…Đối với nghề câu mực ống đại dương, ánh sáng đựơc sử dụng là các đèn chớp, nháy công suất nhỏ trên các thuyền nhỏ di chuyển trên mặt nước. 

         Ngoài các nghề khai thác thủy sản kết hợp ánh sáng chủ yếu nêu trên, trên thế giới và ở Việt Nam còn tồn tại nhiều hình thức khai thác hải sản có sử dụng ánh sáng khác như bơm hút cá, lưới đăng, bẫy…

Vũ Duyên Hải

Nguồn: Bách khoa thủy sản

Hội Nghề cá Việt Nam


 

Ứng dụng của đèn LED trong đời sống xã hội

          Đèn LED ra đời từ những năm 60 của thế kỷ 20 và đến nay đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Với nhiều cái “nhất” và “siêu” như: tuổi thọ cao nhất, có lợi cho sức khỏe nhất, siêu sáng, siêu tiết kiệm điện… đèn LED đã mang lại lợi ích vô cùng to lớn cho nhân loại. Sau đây là những ứng dụng chứng tỏ được ưu thế vượt trội của nó.

        1. Đèn LED trong giao thông

        Trong giao thông, công nghệ LED tỏ ra vượt trội trong việc thỏa mãn tiêu chí tiết kiệm điện năng, mỹ quan, dễ điều khiển và bảo vệ môi trường.

       Tại Mỹ, nếu 50% việc chiếu sáng hiện nay được thay thế bằng cách chiếu sáng bằng LED, nước Mỹ vẫn được chiếu sáng như vậy nhưng bớt đi được 41 GW.

Còn ở Đài Loan đã thay hơn 690.000 đèn giao thông trong một dự án tiết kiệm đủ điện năng để cung cấp cho hơn 60.000 hộ dân. Theo Cục Năng lượng Đài Loan: “Đèn giao thông LED không chỉ tiết kiệm năng lượng mà còn an toàn hơn vì chúng sáng hơn và dễ nhìn thấy hơn.”


         2. Đèn LED trong chiếu sáng và trang trí ở các tòa nhà lớn

        Tuy chi phí lắp đặt ban đầu của đèn LED cao hơn so với các loại đèn khác nhưng khoản tiết kiệm điện năng đem lại còn nhiều hơn chi phí bỏ ra nên nhiều nơi trên thế giới đã có kế hoạch thay thế đèn chiếu sáng bằng đèn LED.

        Chuỗi nhà hàng của Chili (gồm 827 nhà hàng) công bố kế hoạch sử dụng 125.000 bóng đèn LED, giúp tiết kiệm một khoản chi phí khổng lồ, khoảng 3,7 triệu USD/năm và trở thành đơn vị sử dụng LED lớn nhất tại Mỹ từ trước đến nay.

        Tòa nhà chọc trời Torre Agbar (Agbar tower - tháp Agbar) ở quảng trường Glòries Catalanes thuộc thành phố Barcelona, Tây Ban Nha có hệ thống chiếu sáng về đêm bao gồm 4.500 đèn LED được điều khiển bởi hệ thống máy tính tự động, cho phép chiếu sáng với hơn 40 màu sắc bằng nhiều hình thù khác nhau.

Đèn LED còn dùng để làm cho nội thất vừa có vẻ đẹp vừa huyền bí, vừa hiện đại với các thiết bị nội thất như bàn ghế, gường, bồn tắm… Ánh sáng nhiều màu của đèn LED sẽ được thiết kế phù hợp với tâm trạng, cảm giác của chủ nhân căn phòng và mục đích sử dụng.


         3. Đèn LED dùng trong trang trí nội thất

       Trẻ hóa da bằng đèn LED: Đèn chiếu LED được sử dụng với một bước sóng phù hợp ánh sáng màu vàng (bước sóng 590 nm), với cường độ thấp tạo ra một chuỗi tia sáng phát theo xung, được lập trình đặc biệt nhằm tác động kích thích quá trình trẻ hóa tự nhiên của da, theo công nghệ điều biến quang để điều biến tăng hoặc giảm hoạt động của các tế bào sống. Khi chiếu vào da, các LED được lập trình sẵn này sẽ tác động kích thích cơ thể tăng sinh collagen và elastin bên dưới.


        4. Đèn LED trong y học

        Trị vàng da bằng đèn LED: Vàng da sơ sinh - một trong những căn bệnh phổ biến ở trẻ sơ sinh. Đèn LED cung cấp đủ ánh sáng cần thiết để loại bỏ lượng sắc tố vàng cam trong máu ở bệnh nhân bị dư thừa sắc tố vàng cam - căn bệnh có thể dẫn đến các tổn thương nghiêm trọng về não thậm chí tử vong. Liệu pháp dùng đèn chiếu vàng da là một trong những biện pháp đơn giản và an toàn nhất để điều trị căn bệnh này.

        Điều trị mụn trứng cá bằng kỹ thuật LED: Đèn LED với bước sóng phù hợp, tạo ra một chuỗi tia sáng phát ra cường độ thấp, được lập trình đặc biệt nhằm tác động sâu xuống trung bì da, kích thích tăng sinh collagen và elastin, thúc đẩy quá trình chống viêm da, làm lành da và điều tiết làm giảm nhờn da.

        Phát hiện ung thư nhờ đèn LED: Nhóm nghiên cứu từ Hàn Quốc, dẫn đầu là giáo sư Keon Jae Lee của Bộ Khoa học Vật liệu và Kỹ thuật (KAIST) đã sử dụng đèn LED gallium nitride (GaN) tương hợp sinh học để phát hiện ung thư tiền liệt tuyến. "Chiếc đèn LED tích hợp sinh học đại diện cho một công nghệ mới với tiềm năng mạnh mẽ để giải quyết các thách thức quan trọng trong sức khỏe con người, giúp những người mắc bệnh ung thư có thêm lựa chọn khác để điều trị", Giáo sư John Roger từ Bộ Khoa học Vật liệu và Kỹ thuật, UIUC nói trên ScienceDaily. 

 

        5. Đèn LED trong nông nghiệp

         Đặc tính của cây trồng là chỉ hấp thụ một dải phổ ánh sáng nhất định, không phải hấp thụ toàn dải ánh sáng như ánh sáng trắng. Do đó lá cây sẽ có màu, vì dải ánh sáng mà lá cây không hấp thụ sẽ phản xạ trở lại môi trường. LED có đặc điểm là phát ra dải sáng hẹp nên tùy theo loại cây trồng cần hấp thụ dải sáng nào sẽ dùng loại bóng LED có dải sáng thích hợp để giảm chi phí tiêu thụ năng lượng và giảm chi phí đầu tư, tăng hiệu suất canh tác tránh lãng phí, thích hợp cho việc canh tác trong nhà kính, và các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao.

          Hệ thống chiếu sáng cung cấp ánh sáng cho cây quan hợp sử dụng ánh sáng nhân tạo để cây sinh trưởng nên điện năng tiêu thụ là rất lớn. Tuy nhiên, nhờ chiếu sáng bằng đèn LED, hệ thống sẽ sử dụng 1 lượng điện năng tối thiểu.

 

         6. Đèn LED trong quảng cáo

         Các bảng hiệu quảng cáo đã có sự phát triển với sự đa dạng về chủng loại cũng như phong cách. Nổi bật trong số đó là sự xuất hiện của đèn LED được các nhà quảng cáo rất “trọng dụng”.  

 

         7. Đèn LED dùng trong báo hiệu hàng không, hàng hải, không lưu

         Đặc điểm các loại đèn này là hoạt động chớp tắt liên tục, ánh sáng màu theo qui định, lắp trên các điểm cao như nóc tòa nhà cao tầng, tháp truyền hình, trạm phát sóng, cột điện cao áp, trạm truyền tải điện, sân bay và vị trí lắp đặt khó tiếp cận với nguồn điện lưới mà phải dùng acquy, năng lượng mặt trời.…

         Đèn LED là loại đèn thỏa mãn được các yếu tố trên: tuổi thọ cao, giảm chi phí thay thế, tiêu hao năng lượng ít, dãi màu đa dạng…

 

 Đèn LED trang trí và báo hiệu tại Tháp truyền hình Tokyo Skytree,

Tháp truyền hình cao nhất thế giới (634 m)

 

           8. Đèn LED trong ngư nghiệp

           Việc sử dụng đèn LED sẽ tiết kiệm được khoảng 80% chi phí nhiên liệu, tăng sản lượng đánh bắt cá lên khoảng 24,5%, mực lên khoảng 41,6%...

           Các nghiên cứu trên tàu đánh bắt cá kiếm, người ta thấy lượng năng lượng được tiết kiệm đạt tới 86,7%. Ngoài ra chất lượng đánh bắt nhờ ánh sáng LED cải thiện rõ rệt với số lượng cá thu được gia tăng 24,5%. Trên tàu đánh bắt mực, năng lượng tiết kiệm chỉ ở mức 40,1% và sản lượng mực thu được lại vượt trên 41,6%. Ánh sáng LED cũng phù hợp hơn với sinh lý cá.

          9. Công nghệ LED trong thiết bị nghe nhìn

          Màn hình máy tính và ti vi công nghệ LED có ưu điểm vượt trội so với các công nghệ trước đây (TV Plasma, LCD, ti vi đèn hình ống tia điện tử) vì nó cung cấp màu sắc tươi sáng, chất lượng cao, hình ảnh cực kỳ sắc nét mà không chiếm không gian. TV đèn nền LED cũng có chất lượng phát ánh sáng cao bởi vì chúng sử dụng một đi-ốt phát ánh sáng để tạo ra những hình ảnh siêu sáng.


          Đèn LED có kích thước nhỏ, tiêu hao điện năng ít, sử dụng dòng điện 1 chiều điện áp thấp, an toàn khi sử dụng nên đã được sử dụng trong cả lĩnh vực thời trang trong các bộ váy dạ hội, dày, cà vạt, bông hoa tai, mi mắt…         

10. Đèn LED với thời trang

 


           

Ngày nay, đèn LED đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của xã hội nhờ những tính năng ưu việt của nó về tuổi thọ, tiết kiệm điện, có lợi cho sức khỏe… Tuy nhiên, ở Việt Nam, việc ứng dụng đèn LED vẫn còn rất hạn chế. Nguyên nhân là do người dân chưa nhận thức đầy đủ về hiệu quả thiết thực mà đèn LED mang lại. Nguyên nhân khác là là do chi phí đầu tư ban đầu còn khá cao. Vì vậy Chính phủ cần có cơ chế, chính sách khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất đèn LED, từ đó hạ giá thành sản phẩm; đồng thời tăng cường công tác truyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của người dân về những lợi ích thiết thực mà đèn LED mang lại cho chính họ và cộng đồng.

 

Ứng dụng đèn LED trong công nghiệp đánh cá

 

        Đèn LED là mộ trong những loại đèn không thể nào thiếu trong xã hội hiện nay bởi rất nhiều các ứng dụng hữu ích của nó. Trong đó có ứng dụng đèn LED trong công nghiệp đánh cá. Ứng dụng này sẽ giúp cho việc đánh bắt cá của các ngư dân trở nên dễ dàng hơn.

 

Đèn LED công nghiệp chiếu ngầm để đánh cá:

Giải pháp hữu ích: Chiếu ngầm thay vì chiếu hắt.

Sử dụng đánh cá bằng đèn đã có lịch sử từ rất lâu. Theo truyền thống từ trước đến nay đánh cá bằng đèn sử dụng phương pháp chiếu hắt, tức là đèn ở trong không khí hắt ánh sáng từ không khí xuống nước.

Bài viết này giới thiệu với các ngư dân giải pháp hữu ích mới, đó là dùng đèn LED công nghiệp chiếu ngầm để đánh cá.

Dùng đèn LED công nghiệp chiếu ngầm để đánh cá không phải là ý tưởng mới. Nó chỉ là giải pháp mới vì các đèn truyền thông không phù hợp để chiếu ngầm xuống nước

 

  • Do dùng điện áp cao
  • Do cấu tạo bóng đèn dễ vỡ, không chịu được khi thả xuống độ sâu vài mét nước
  • Do cấu tạo đèn rất khó để tạo hệ thống dẫn điện kín, chịu được độ sâu;

 

       Đến khi có đèn LED công nghiệp chịu nước, ý tưởng này bắt đầu được triển khai vào giải pháp hữu ích trong thực tế.

Những ưu điểm của giải pháp dùng đèn LED công nghiệp chiếu ngầm để đánh cá:

         1. Với cách chiếu hắt truyền thống, sử dụng đèn LED để chiếu sáng tiết kiệm 65% lượng dầu phát điện so với dùng đèn Siu (đèn cao áp halogen kim loại) đánh cá truyền thống. Tham khảo bài viết thực tế.

         2. Dùng đèn led đánh cá cũng cho chất lượng thịt cá tốt hơn vì đèn Siu chứa 20% là tia UV nên nó góp phần gây phân huỷ thịt cá ngay từ lúc đầu đánh bắt được, dùng đèn led sẽ loại được vấn đề này.

         3. Sử dụng đèn LED chiếu ngầm lại hiểu quả gấp đôi đèn LED chiếu hắt, vì chiếu hắt, khoảng 15% – 65% quang thông bị phản xạ ở bề mặt giữa 2 môi trường chiết quang (không khí và ánh sáng). Sóng mặt nước càng mạnh, lượng ánh sáng bị phản xạ lại môi trường không khí càng cao.

         4. Sử dụng đèn chiếu ngầm, giá thành những bộ đèn sẽ giảm được 20% – 40% do đơn giản được rất nhiều hệ thống toả nhiệt cho các bộ đèn công suất lớn.

          5. Đèn LED chiếu ngầm dễ tạo thành các mô hình chiếu sáng khác nhau: tập trung cường độ vào 1 điểm (phục vụ chiếu sâu) và trải rộng diện tích chiếu sáng (ưu tiên chiếu rộng, nông) rất dễ thích ứng với các tập quán đánh bắt cá.

 


 

Đèn LED – Giải pháp tiết kiệm cho ngư dân đánh cá vùng biển

 

        Các nhà khoa học Nhật Bản và Hàn Quốc đã làm một cuộc nghiên cứu, khảo sát và sửng sốt khi phát hiện nhiên liệu dầu cung cấp cho chiếu sáng dẫn dụ hải sản chiếm tới hơn 50% tổng chi phí cho mỗi đợt ra khơi đánh bắt Công nghệ chiếu sáng truyền thống bằng các loại đèn dây tóc, halogen, đèn huỳnh quang, đèn compact… thường “ngốn” một lượng năng lượng khổng lồ, đặt gánh nặng đè trĩu vai những người ngư dân chất phác, cần cù một nắng hai sương bám biển mênh mang trời, nước.

 

Hiện trạng việc sử dụng đèn sợi đốt trong đánh bắt cá

        Không những vậy, loại đèn đánh cá truyền thống có hệ số phát nhiệt rất cao, dễ gây bỏng da, làm hại mắt và giảm tầm nhìn của ngư dân. Đó là chưa kể việc phát điện bằng máy phát làm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, một trong những “tội phạm” phát xạ CO2 gây hiệu ứng nhà kính. Đã đến lúc phải thay đổi!

Với tàu sử dụng 40 bóng đèn Metal Halite, dàn đèn có trọng lượng 400kg, tiêu thụ 200 lít dầu/ngày tương đương 170 USD/ngày. Khi thay thế bằng 100 LEDs, trọng lượng dàn đèn chỉ còn 125kg và lượng dầu tiêu thụ tụt xuống mức 30 lít/ngày tương đương 25 USD/ngày. Với chu kỳ đánh bắt 20 ngày/tháng, lượng nhiên liệu từ 4000 lít dầu/tháng giảm xuống còn 600 lít dầu/tháng nhờ công nghệ ánh sáng dẫn dụ LED. Như vậy, mỗi tháng tiết kiệm chi phí tới 2.900 USD.

 

 Sử dụng đèn LED trong đánh bắt cá

       Chi phí năng lượng cho ánh sáng dẫn dụ hải sản bằng LED được khảo sát với 2 loại hải sản đặc thù là cá mực và cá kiếm. Khi đánh bắt ven bờ chi phí năng lượng tiêu thụ của dàn đèn LED chỉ tiêu tốn bằng 1/10 chi phí so với các loại đèn truyền thống với đánh bắt cá mực và thậm chí con số này chỉ còn 1/20 với việc đánh bắt cá kiếm. Những chuyến hải trình đánh bắt xa bờ, chi phí năng lượng dùng đèn LED thấp hơn từ 10 đến 12 lần so với đèn truyền thống. Thật là một lợi ích kinh tế hấp dẫn!

Theo các chuyên gia, thì chỉ 20% năng lượng ánh sáng của các giàn đèn là có hữu ích cho dẫn dụ cá, còn lại 80% là lãng phí. Đó là chưa kể đèn cao áp chỉ thích hợp cho chiếu sáng công cộng, trong khi mức độ nhiễm mặn trong không khí ở biển cao, nên tuổi thọ của đèn thấp. Với những so sánh trên thì đèn LED là lựa chọn tối ưu giúp ngư dân làm giàu từ biển.


 

 Đèn LED: Chìa khóa vàng cho ngành công nghiệp tàu cá

 

       Các nhà khoa học đã thực hiện một cuộc nghiên cứu, khảo sát và thấy rằng nhiên liệu dầu cung cấp cho chiếu sáng dẫn dụ thủy hải sản chiếm tới hơn 50% tổng chi phí vận hành của mỗi đợt ra khơi. Một dự án triển khai công nghệ chiếu sáng dẫn dụ thủy hải sản bằng đèn LED tại Việt Nam sẽ là giải pháp hiệu quả cả về kinh tế lẫn môi trường.

       Tiết kiệm 2/3 nhiên liệu

       Ngày 6/2/2015, tại tỉnh Ninh Thuận, Hội Chiếu sáng Việt Nam (Tổng hội Xây dựng Việt Nam) phối hợp với các doanh nghiệp sản xuất đèn chiếu sáng tổ chức hội nghị triển khai dự án “Thí điểm sử dụng đèn LED thay thế các nguồn sáng truyền thống trong đánh bắt thủy, hải sản góp phần giảm phát khí thải nhà kính”. Dự án do Quỹ môi trường toàn cầu - Chương trình tài trợ các dự án nhỏ tại Việt Nam (UNDP - GEF SGP) tài trợ.

      Các chuyên gia cho rằng, công nghệ chiếu sáng truyền thống bằng các loại đèn cao áp dây tóc, halogen, đèn huỳnh quang, đèn compact… thường “ngốn” một lượng năng lượng khổng lồ, khiến chi phí vận hành cho mỗi chuyến ra khơi của ngư dân tăng lên đáng kể. Các nhà khoa học cũng đã thực hiện một cuộc nghiên cứu, khảo sát và phát hiện nhiên liệu dầu cung cấp cho chiếu sáng dẫn dụ thủy hải sản chiếm tới hơn 50% tổng chi phí cho mỗi đợt ra khơi đánh bắt, gây nhiều khó khăn cho ngư dân. Do đó, việc triển khai công nghệ chiếu sáng dẫn dụ thủy hải sản bằng đèn LED tại Việt Nam sẽ là giải pháp hiệu quả cả về kinh tế lẫn môi trường.

 

       Để ngư dân giảm chi phí, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường nên dùng đèn LED, đặc điểm của công nghệ đèn LED là chiếu sáng rắn (theo công nghệ bán dẫn là công nghê cao trong ngành sản xuất linh kiện điện tử), đèn LED cho hiệu suất chiếu sáng rất cao, độ bền cao và ít tiết kiệm điện năng. Trong khi các loại bóng đèn truyền thống như đèn huỳnh quang, đèn halogen… hiệu suất chiếu sáng thấp và tiêu tốn năng lượng cao gấp hơn 2 lần đèn LED. Hơn nữa, khi sử dụng loại đèn đánh cá truyền thống, ngư dân phải đầu tư máy phát điện lên đến 100KVA và trong suốt quá trình sử dụng sẽ gây ra một số rủi ro hư hỏng tàu cá tại thời điểm khởi động và thời điểm tăng cường độ sáng đột ngột để thu hút luồng cá vì công suất tiêu thụ quá lớn dẫn đến quá tải. Trong khi đó đèn LED sẽ khắc chế được hầu hết các rủi ro và an toàn trong qúa trình hoạt động. Để có cùng 1 lượng ánh sáng bao trùm mặt biển trong phạm vi đánh bắt, sử dụng công nghệ đèn LED chỉ tốn nhiên liệu bằng 1/3 so với các loại đèn truyền thống.

       Giải pháp thay thế tối ưu

      Theo các chuyên gia, việc giảm chi phí chiếu sáng, tiết kiệm năng lượng là những lợi ích thiết thực từ việc ứng dụng công nghệ đèn LED trong đánh bắt xa bờ. Ngoài ra, công nghệ chiếu sáng bằng đèn LED để đánh bắt thủy hải sản còn có ý nghĩa về mặt bảo vệ môi trường, khi trung bình lượng dầu diesel tiết kiệm được trong một chu kỳ đi biển của một chiếc tàu là 3.400 lít, tương đương với giảm phát thải hơn 3 tấn khí carbon gây hiệu ứng nhà kính. Còn ngư dân thì được lợi vì giảm hao phí nhiên liệu, tiết kiệm ti